Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

NHỚ VỀ MỘT THỜI THƠ ẤU

TUỔI THƠ & NỖI NHỚ...

Đã lâu ngủ không mộng mị, đêm qua bỗng dưng mơ thấy một giấc mơ lạ lùng.

Chiều nay bỗng thấy nhớ cồn cào, đứng ngồi không yên, muốn đi ra phố. Thì đi. Đi một lúc thì đến Đầm Trấu. Không sang bên ấy vì cỏ dại um tùm, lối mòn ướt át. Bên ấy chỉ có ao muống với mấy cái hồ rộng thông với sông Hồng. Mùa nước sông lên các bè nứa cứ dập dềnh dập dềnh, tập bơi rất khoái nhưng cũng nguy hiểm. Hôm ấy thằng Thắng suýt chết đuối còn gì. Hôm nào Me sai lấy đất về để Me muối trứng thì phải có cả anh Sơn cùng đi nữa cơ.

Thì đi vào Nguyễn Lai Thạch xem có gặp đứa nào không. Qua số 12 nhà Công Cò thấy vắng vẻ quá, lá vàng phủ đầy sân không thấy ai quét. Trên cầu thang ngoài trời lên gác hai có để mấy thanh gỗ. Nhà Công Cò vắng tanh. Đi thêm một quãng nhìn sang bên kia đường là nhà thằng Sơn, Đào Việt Sơn. Hình như nhà nó số 5, mà sao lại có biển đề Cà-phê, lạ thật. Nhà 22 đây rồi, hình như chú Trần Bửu Kiến đi vắng, trên lầu hai cũng không thấy bóng Kiều Nga. Thêm mấy bước chân là số nhà 34, nhà Hòe 'Tây', bọn con gái hay tụ tập ở đây, chẳng hiểu bọn chúng chơi trò gì trong ấy.

Băng qua con phố là Vườn hoa Pasteur, một vườn hoa nhỏ chỉ toàn trồng cỏ và cây cổ thụ. Thấy cái cây đẹp nhất và lạ nhất mình bảo "A cây dừa!", anh Sơn bảo "Cau Ấn Độ đấy, ngố ạ!". Gần giữa bãi cỏ xanh rì phía đằng kia là bức tượng bán thân nhỏ nhắn của ông, bác sĩ Pas-tơ nổi tiếng. Phía tay trái bên kia đường là một tòa nhà kiểu Pháp cổ kính nằm trong một khu vườn rộng, đó là Viện Pas-tơ. Vắng vẻ, không một bóng người. Nghe nói trong í nhiều ma lắm, thằng Chí Khỉ bảo thế...

Đáng ra phải đi ra đoạn cuối phố Nguyễn Công Trứ để về nhà thì mình lại đi dọc theo Tăng Bạt Hổ, men theo vỉa hè Câu lạc bộ Lao động. Trong hàng rào là sân bóng, đằng này dành cho các anh lớn, bọn mình hay chơi đằng kia, chỗ có bà bán kẹo lạc bánh rán. Có một ông da đen tóc xoăn đạp xich lô chuyên ngồi uống nước chè ở đấy. Bọn thằng Lưu Thế Trường, Phùng Việt Thắng, Đức Lưu chắc về nhà rồi, không nghe tiếng cãi nhau chí chóe của bọn nó...

Bên kia đường là nhà con Liên, Phan Gia Liên. Chắc ông Tuệ mới đi công tác về vì thấy có cái xe con của ông đỗ trong sân. Đi vòng đằng kia là đến khu nhà của Tạ Minh Hảo và Lê Hoàng Mai, chúng nó ở trong khu tập thể Bệnh viện 108. Còn nhà cái Diệp, Đặng Ngọc Diệp thì ở phía đằng kia. Biết thế nhưng mình chưa đến nhà cái Diệp bao giờ. Cái Diệp xinh và lại múa đẹp hát hay nữa, mò đến rồi chúng nó lại trêu mình ứ thèm. Với lại mình thích cái Nguyên Hạnh mất rồi.

Vòng một chút qua Phạm Đình Hồ là về Hàng Chuối. Quãng này vắng vẻ nhất, vắng nhưng không nhiều ma như quãng vắng dưới khúc Nguyễn Công Trứ kia. Quãng này chị Chi hay tập cho mình đi xe đạp, hễ chị cứ thả tay là mình lại đạp thật nhanh rồi đâm sầm vào vỉa hè để thay cho phanh.

Hàng Chuối đây rồi. Bên này, cùng số lẻ với mình là nhà con Bình con ông Trân. Thằng Hiển 'chuột' thích con Bình ra mặt. Bên kia đường là nhà Cô Sa, cô Kim Sa mẹ thằng Việt. Mình không biết nhà cái Trâm ở số mấy, nhưng trong Ngõ 2 là nhà thằng Vinh, Phạm Trọng Vinh. Thằng này đẹp trai nhưng không không đẹp bằng anh Sơn nhà mình. Thằng này được cái trắng trẻo, anh Sơn mình thì ngăm đen mà lại đầy rôm, nhưng anh mình đẹp trai hơn nó.

Qua chỗ Tòa soạn Báo Phụ nữ là đến nhà ông Trân có cái Bình, quá nhà ông Trân là đến nhà số A bên cạnh nhà mình rồi. Hình như chủ nhà là một bà người gốc Hoa. Ngoài vỉa hè có hai cây cơm nguội, mùa ra quả rất nhiều vành khuyên, trong góc vườn thì trồng mấy cây đu đủ. Còn hoa móng rồng không biết ở đâu mà đêm đi qua rất thơm. Mình nhảy qua bên kia đường, bước lên vỉa hè, đi sát tường nhà số 42. Nhà này tường cao, xây kín mít, cổng sắt, bên trong sân có hai cây mít sum suê chẳng có quả nào, toàn thấy dái mít rụng đầy gốc, ong ruồi bay đầy.

Mình đứng lại ngay trước nhà thằng Thắng, Đỗ Tất Thắng, con ông Lợi. Đứng đây, nếu anh Tạo 'ba môi' anh thằng Thắng đi đâu về bắt gặp lại vặn vẹo cho coi. Thế nào anh Tạo cũng hất cái cằm lên một cái rồi hỏi: "Tối rồi, chúng mày định rủ nhau đi đâu, hả?". Nhưng không thấy bóng anh Tạo, cũng không thấy bóng thằng Tấn, Võ Châu Tấn mí lại con Thảo em nó. Thằng Tấn con ông Võ Quảng ở gác hai phía trên, mình chả lên đó bao giờ. Nhòm vào trong sân, không có ai. Ngoài phía vườn dưới gốc cây khế già có đặt cái bàn bóng bàn cũ kỹ phủ đầy hoa khế, cũng không thấy ai chơi. Chắc bọn nó chơi buổi chiều thôi, bây giờ tối rồi. Hai cái lồng chim vẫn treo trên cành khế, rỗng không, chả thấy con chào mào mí lại con khướu đâu cả.

Mình đứng gần cổng nhà thằng Tấn, nhìn chếch sang cửa nhà mình. Đó là nhà Cậu Mợ mình. Mình nhớ trên ban công tầng hai chỗ phòng mình và anh Sơn, trồng rặt một loại xương rồng dây đầy gai và hoa đỏ li ti. Mỗi buổi trưa trốn Me đi chơi là hai thằng phải vắt lên đó một cái bao tải mới dám trèo qua rồi tuột xuống theo đường ống thoát nước mưa.

Ở góc vườn bên trái sát tường nhà số A là cây khế anh Minh trồng. Me bảo trồng cây khế chua để nấu canh thì anh Minh trồng nó lại ra quả ngọt, nhưng mà khế ngọt thì bọn trẻ con thích hơn. Cây khế này quả nhạt chả ngon nên ít bị trẻ con hái trộm, chỉ được cái vòm lá sum suê, trên đó lại có mấy chùm tầm gửi.

Trời chập choạng tối, đèn đường leo lét vàng vọt. Nhìn lên cây khế thấy mấy giò tầm gửi đen đen trong vòm lá, âm u như tổ quạ. Thỉnh thoảng vài con dơi ăn đêm lại liệng qua liệng lại trông chờn chợn. Các cụ nói ma hay ở cây đa, không biết ma có ngụ ở cây khế không. Mình cứ nghĩ mung lung, nếu hồn Me về thăm nhà mà không biết vào đâu thì Me cứ nghỉ lại ở vòm cây khế cũng được. Me ơi...

Lúc chiều thấy nôn nao, biết là nhớ nhưng không rõ là nhớ gì.
Bây giờ thì mình biết chắc là đang nhớ về tuổi thơ...
Tuổi thơ ơi...



Đang vẩn vơ đầu ngõ Trung Ngạn để mua bia xi-rô lựu cho anh Minh thì thấy thằng Phương từ trong nhà Trọng 'cộ' đi ra. Ngang qua, nó đá một phát làm cái bi-đông mình cầm trên tay lăn lông lốc  rồi cười nhăn nhở. Mình vừa cúi nhặt bi-đông vừa chửi theo "Trôốc bọ mi, Phương Min!". Phương 'min' quay lại, tưởng nó cà khịa té ra không, nó dúi cho mình tờ báo rồi nói: "Mày vừa bảo gì tao? Đền mày tờ báo, về đưa cho Mẹ mày lót trứng vịt muối nè".

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

VIẾT SAU TIỆC CƯỚI

VIẾT CHO HAI CHÁU HỒNG VIỆT - THU TRANG
 
Việt và Trang yêu quý,
 
Thế là đám cưới của hai cháu thực sự đã biến thành một đêm hội, cậu không biết nên gọi là Dạ Hội hay Vũ Hội nhưng mà đúng là Hội, như mong ước của cháu vẫn thường tâm sự với mọi người. Bà con, bạn bè của hai cháu, bạn bè đồng nghiệp của ba mẹ Việt đều đến đông đủ và tràn ngập yêu thương. Cậu cảm nhận được niềm hân hoan trên khuôn mặt từng người. Cậu cũng thấy rõ là hai cháu đang rất hạnh phúc. Cậu mợ mừng cho hai cháu!
 
Cậu thực sự xúc động khi nghe chú Hội của Việt thay mặt nhà trai phát biểu. Khi nhắc đến sự vắng mặt của ba mẹ cháu, chú Hội đã nghẹn lời hồi lâu. Cậu cũng xúc động không kém khi nghe Việt và Trang cùng cất lên bản tình ca bất hủ, bản tình ca của đôi lứa yêu nhau và không có chỗ cho khái niệm rời xa. Khi hai cháu hát đến câu cuối cùng rồi giang rộng vòng tay ôm chặt lấy nhau, nếu được ngồi một mình thì cậu đã bật khóc. Đó là điều mà mẹ Hồng Anh khi còn sống đã mỏi mắt ngóng chờ. Đó cũng là điều mong mỏi bấy nay của Ông Bà và bà con nội ngoại, và cũng là của bạn bè nữa, Việt Trang biết không.
 
Cậu mợ và các em là những người ra về gần như cuối cùng. Dì Bình và Phương Tâm là đại diện gia đình còn ngồi lại với hai cháu. Bởi vì tiệc cưới đã chấm dứt nhưng đêm hội của hai cháu cùng các bạn trẻ vẫn còn đang tiếp tục. Các bạn của cháu thật nhiệt tình và chu đáo. Đặc biệt sự có mặt của Khánh Thi, của Chí Anh cùng bạn nhảy, và một số kiện tướng, "Đôi giày vàng" khác đã làm cho tiệc cưới của hai cháu thêm phần vui vẻ và sang trọng. Các cậu các Dì vô cùng biết ơn các bạn đồng nghiệp của Việt và Trang.
 
Khi chia tay hai cháu, ra đến cửa phòng cưới cậu mới phát hiện ra tấm pa-nô để tấm ảnh của mẹ cháu đặt trang trọng ở chính giữa những bức ảnh cưới của hai cháu. Cậu biết đây là ý tưởng của ai rồi, và chắc là mẹ Hồng Anh đã rất vui, rất hài lòng... Mợ Thưởng tỏ ra xúc động thực sự, mợ lại gần tấm pa-nô, nhẹ nhàng đặt bàn tay lên đôi vai gầy của người chị thân yêu, xoa xoa nhè nhẹ. Còn cậu, cậu thử đi về phía nào rồi ngoảnh nhìn lại, vẫn thấy đôi mắt mẹ cháu dõi nhìn theo, da diết. Những lúc ấy cậu rất muốn khóc...
 
Buổi chiều, khi đón dâu về đến Hoàng Diệu, cậu thấy bà như khỏe thêm ra, Bà rất vui và ngồi tiếp đoàn nhà gái được khá lâu. Buổi tối, Bà cũng ra hội trường Cung Hữu nghị để dự tiệc cưới, đó là cả một sự cố gắng rất lớn, có lẽ bà vui nên không thấy mệt. Cô Nhiên nói với cậu, hai đứa chúng nó thường khóc mỗi khi thắp hương trên bàn thờ mẹ, hôm ăn hỏi cũng vậy. Cậu biết hai đứa rất thương mẹ và nhớ mẹ. Cậu cũng vậy...
 
Cậu biết Việt đã rất cố gắng, đã chuẩn bị rất kỹ và rất lâu cho ngày cưới của mình, và cháu đã làm được một việc mà mọi người đều rất hài lòng, đó là thể hiện tính tự lập, biết lo xa và chu đáo. Nhưng tất cả mới chỉ là bắt đầu, cuộc sống với bao điều vất vả phức tạp vẫn còn đang phía trước. Sau những giờ phút vui ngất ngây bởi hương vị lễ thành hôn, hãy bình tâm để suy ngẫm, để chuẩn bị tinh thần cùng những kế hoạch và dự định cho một cuộc sống gia đình riêng còn chờ phía trước .
 
Cậu muốn tâm sự những điều cơ bản ấy với Việt bởi vì cậu biết Việt từ lúc cháu còn bé tí. Năm ấy, mẹ Hồng Anh vừa sinh Việt vẫn phải tiếp tục công việc ở Tổ hợp Nghiên cứu Dup-na. Cậu thi xong môn cuối cùng và xin phép nhà trường lên Dup-na nghỉ hè một tuần. Trong những ngày ở Dupna, cậu được giao ở nhà trông Việt để mẹ đi làm. Lúc đó Việt còn nằm trong xe nôi, mỗi lần đòi ăn thì cậu phải cho Việt bú bằng bình sữa pha sẵn.
 
Cậu biết Việt từ những ngày Việt theo Ba Mẹ về Việt Nam ở nhà ông bà ngoại. Mỗi bữa ăn Việt được đặt ngồi trên một chiếc ghế đóng riêng cho trẻ con, cao tận mặt bàn như người lớn. Việt thường được đặt ngồi bên phải Ông ngoại, bên trái Ông là ghế của Bà. Ba Long và mẹ Hồng Anh chạy lui chạy tới liên hồi với đủ thứ dụng cụ tiếp phẩm trên tay, nào thìa nào đũa, nào cháo nào bột.
 
Có hôm Ông ngoại nói: "Đừng chiều trẻ quá sau này dễ hư". Tất cả lặng im lắng nghe cực kỳ nghiêm túc. Lát sau Ông bảo: "Không ai chiều con như thế cả, rồi đến ăn chuối cũng không biết bóc như thế nào. Trên thế giới Ông chưa thấy ai ăn chuối bằng thìa cả!". Lúc đó mọi người đều ngoảnh nhìn Việt và cả nhà cùng cười ồ cả lên, té ra ba Long đang dùng thìa nạo chuối để bón cho Việt. Việt ngơ ngác không hiểu mọi người đang cười gì, còn không khí bữa cơm trở nên vui vẻ và ấm cúng hơn. Tính Ông ngoại dí dỏm, Ông luôn biết đặt những góp ý nghiêm túc vào trong một ngữ cảnh nhẹ nhàng và vui vẻ, khiến người nghe rất dễ tiếp thu. 
 
Cậu biết Việt khi Việt đã biết làm dáng mỗi khi chụp ảnh, khi cậu bế Việt cho Ông ngoại chụp hình thì Việt chúm môi và chỉ một ngón tay về ống kính Canon của Ông. Chiều chiều khi Ông đi làm về vừa ra khỏi xe là đã có Việt mặc áo liền quần chờ sẵn ở sân. Những lúc như vậy Ông ngoại để nguyên cả quân phục, khi thì ngồi xổm ngay dưới gốc cây doi đùa vui với cháu, khi thì Ông bảo ai đó chụp cho Ông mấy kiểu ảnh ngoài sân lúc đang chơi với Việt. Những khoảnh khắc quý giá đó đã may mắn được ghi lại trong những tấm ảnh của bộ sưu tập gia đình. Việt Trang hôm nọ lần xem anbum ở phòng Mẹ chắc đã nhìn thấy tuổi thơ của mình. 
 
Cậu biết Việt mê xe ô-tô khi còn bé tí và tập vẽ khi bắt đầu biết cầm bút. Trong nhà, cậu Biên có biệt tài vẽ các loại máy bay chiến đấu cực nhanh và 'y như thật'. Cậu Nam thì có biệt tài vẽ người và động vật, một khi cậu Nam dùng bút thể hiện những thế võ của các võ sư lên giấy thì...thôi rồi cậu Định ơi! Còn Việt, chẳng những Việt biết vẽ rất nhanh, mà còn biết tô nét và đánh bóng để cho những chiếc xe du lịch bốn chỗ trở nên sang trọng và sống động. Cậu còn biết, Việt là chuyên gia cỡ tuổi mẫu giáo biết phân biệt sự khác nhau giữa xe Vonga của Ông ngoại với xe Uoat cà là tèng của Ông Trỗ. Cậu biết Việt thích ô-tô, thích vẽ ô-tô, và thích những chiếc ô-tô bằng xốp đủ kiểu mà cậu Định tỉ mẫn cắt cho Việt bằng dây may-xo nóng đỏ. Về biệt tài này thì Việt chịu đầu hàng cậu Định, hehe!

Cậu biết Việt tốt nghiệp ĐHBK với một chuyên ngành đang rất thời thượng thời bấy giờ nhưng không muốn trở thành 'cán bộ nhà nước'. Việt đã cùng mấy tên bạn thân đứng ra thành lập một doanh nghiệp nhỏ, Việt muốn tự mình thử sức trong nền kinh tế thị trường mới manh nha đầy những ẩn số. Trải qua một thời gian đầy những thăng trầm, ít ra Việt cũng đã trưởng thành lên rất nhiều.

Nhưng cái mà cậu không hề biết là Việt đã không "phối hợp làm ăn" với anh Cường 'già' nữa. Và cậu mù tịt thông tin khi Việt cùng với Trang sang châu Âu vừa đi làm kiếm tiền vừa theo học các khóa khiêu vũ quốc tế. Đùng một cái cậu thấy Việt xuất hiện trên tivi với danh hiệu Vô địch Quốc gia - Đôi Giày vàng năm ấy cùng với Trang, rồi trả lời phỏng vấn,... Đến đây thì cậu bị Dì Phúc chính thức tước bỏ danh hiệu "Cái gì cũng biết"!

Cậu nhớ vào một ngày thu năm ấy, cậu đi cùng mẹ Hồng Anh của Việt đến gặp một nhà tử vi danh tiếng. Lần đó bác ấy đã nói với mẹ: "Xin chúc mừng chị, sang năm vào dịp này chị sẽ có con dâu". Mẹ rất phấn khởi, mẹ cám ơn bác í rất nhiều. Trên đường về qua câu chuyện của mẹ, cậu mới được biết là Trang rất hợp với mẹ và mẹ cũng rất quý Trang. Việc tổ chức đám cưới bị chậm lại có lẽ bắt đầu từ dự định ra nước ngoài tu nghiệp khiêu vũ quốc tế để tính chuyện lâu dài.

Cậu không hề biết là Việt và Trang đã nói với mẹ những gì, đã cho mẹ biết những dự định về tương lai của hai đứa như thế nào. Cậu chỉ biết là từ năm này sang năm khác, từ mùa này sang mùa khác, mẹ Hồng Anh vẫn luôn nuôi hy vọng là ngày cưới của chúng nó sắp đến gần.

Và ngày đó đã đến thật, nhưng Mẹ thì đã không chờ được đến ngày đó.

Tuy thế Mẹ đã biết hết. Và Mẹ cũng hài lòng vì thấy hai đứa hạnh phúc bên nhau, và lúc nào cũng nhớ đến Mẹ...

Ngày 01-06-2011
Cậu Định

THƯ GỬI MẸ

THƯ GỬI MẸ NHÂN "NGÀY CỦA MẸ"

Phan Hồng Việt

Mẹ,

Đã một thời gian rất dài con luôn mơ là cố thêm một chút nữa thì chữa được khỏi bệnh cho mẹ. Con cũng luôn nói với mẹ là bệnh tình không nặng để mẹ yên tâm chữa bệnh. Rồi trước khi mất, mẹ vẫn nghĩ là bệnh của mẹ không nặng. Còn con, con không hiểu sao mọi việc lại diễn ra như thế. Mẹ chẳng dặn được gì cho con và cho con dâu vì chúng con có cần điều đó đâu. Chúng con cần mẹ.

Con viết những dòng này mà nước mắt cứ rơi rơi nhoà hết cả màn hình. Thế là đã 2 năm kể từ ngày 2 đứa viết chung một  thiếp chúc mừng tặng mẹ. Nhân ngày của mẹ. Như là 2 đứa con tặng mẹ vậy.

Thiếp đó cùng với chiếc cúp vô địch quốc gia chúng con tặng mẹ, mẹ để ngay đầu giường, cùng với những đồ vật quan trọng nhất của mẹ. Điều đó làm chúng con biết mẹ thích nó và rất yên tâm về 2 đứa.
Cố GS.TS Võ Hồng Anh.
Cố GS.TS Võ Hồng Anh.


Mẹ cũng hãy biết rằng tất cả các bạn của mẹ ở lớp Internat, có lẽ phải đến 80 người đều nhớ và thương mẹ lắm. Hai năm qua đi mà tình cảm vẫn nguyên vẹn như khi mẹ còn sống. Những tình cảm đó bây giờ dành cho con và Trang làm chúng con thấy ấm áp vô cùng, mẹ ạ.

Những bài viết của những người bạn của mẹ viết về mẹ sau khi mẹ đã mất, tình cảm chân thành, thương tiếc và xúc động lắm. Rồi những sự giúp đỡ  của họ cho con, sau khi mẹ đã mất. Tất cả điều đó làm con không cảm thấy trống vắng quá mức. Vẫn có mẹ ở đâu đó khá rõ xung quanh.

Ông vẫn khoẻ và bà thương con nhiều. Các cậu và các dì, các cô và các chú cũng hết sức giúp đỡ con. Chỉ có điều không gì có thể bù đắp lại cảm giác yên tâm của con trong cuộc sống khi còn có mẹ.

Những lúc nửa đêm, con lại nhớ, đã bao năm chỉ có con và mẹ ngồi cùng với nhau và xem cùng một chiếc tivi. Con vẫn tranh xem bóng đá và không cho mẹ xem những bộ phim truyện mà mẹ thích… Bây giờ chỉ còn mỗi con ngồi đó. Hai năm rồi đấy. Vẫn thế thôi. Mọi thứ không có gì thay đổi, chỉ là hai người còn lại một người.

Hai đứa đã hiểu thêm rất nhiều về cuộc sống của mẹ, đã đọc rất nhiều nhật ký của mẹ, đã xem hết các kỷ vật và đồ vật của mẹ. Chúng con trân trọng cũng như thích thú tất cả mọi thứ thuộc về mẹ, đặc biệt là đức tính tiết kiệm, cất giữ tất cả mọi thứ. Chắc chắn là mẹ không vứt đi bất cứ thứ gì, vì tấí cả đều có ích với mẹ. Và rất tiếc là chúng con không được là 1 trong những người giúp mẹ sắp xếp và cất giữ những thứ đó dù con dâu của mẹ rất thích, mơ ước được làm như vậy.

Những bài báo và tài liệu về gia đình mà mẹ cất giữ, đúng như đức tính của mẹ, không thiếu một số nào, đã giúp con biết được thêm rất nhiều về truyền thống gia đình, và hiểu được trách nhiệm của mình. Con tự hào vì gia đình mình lắm và tự hào vì mẹ lắm.

Có một điều mẹ hãy yên tâm, con dâu của mẹ yêu và thương mẹ lắm. Không thể viết tả được là như thế nào, chỉ biết là từ trong đáy lòng thôi. Có lẽ đó là điều may mắn rất lớn của con. Nhưng con vẫn muốn hơn thế nhiều lắm, có cả mẹ nữa.

Ước gì mẹ đọc được những dòng này...

-------------
 Hồng Việt - Thu Trang
 


Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

CHỊ HẠ ƠI

VỀ NƠI CUỐI TRỜI...

Kính dâng Hương Linh Chị Hạ của chúng em

Chiều qua, Chị Hạ con Dì Liên đã ra đi. Chị về Bên Ấy để đoàn tụ với Ba Mẹ và những người thân yêu, với Chị Xuân của Chị.

Dì Liên là chị của Mẹ tôi. Dì mất sớm để lại hai con gái còn nhỏ dại, đó là chị Xuân và chị Hạ. Chị Xuân được bà con ở quê nuôi nấng cho ăn học, sau này chị làm nghề giáo, dạy các lớp tiểu học. Chị mất cách đây khoảng dăm năm, thọ 75 tuổi.

Chị Hạ lúc ấy còn bé lắm, ở với Bà Ngoại, rồi được Bà đem theo lên Việt Bắc ở cùng gia đình Cậu mợ tôi trên An toàn Khu. Chị lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương của Bà ngoại và Cậu mợ. Chị gia nhập quân ngũ lúc còn rất trẻ.

Ấn tượng của tôi về Chị là lần chị theo Cậu tôi về thăm quê, lần đầu tiên sau hòa bình lập lại. Hình ảnh đọng lại trong đầu óc non nớt của tôi là chị rất đẹp, rất oai trong bộ quân phục còn mới cứng. Dịp ấy tôi còn bé lắm, lại bị đau mắt đỏ, chị lấy một chiếc khăn mùi-xoa thơm phức lau mắt cho tôi, và dặn tôi hãy giữ lấy "Chị cho em đấy, cho hẳn đấy, thật mà!". Chị phải nựng như thế tôi mới dám cầm, trẻ con ở quê mà, cái gì cũng sợ.

Sau này tôi ra Hà Nội học thì chị đi Trung Quốc hẳn mấy năm. Ở Trung Quốc chị học nghề vẽ mỹ thuật cho ngành sứ. Về nước chị làm việc tại nhà máy sứ Hải Dương. Trong nhà Cậu mợ và trong tủ ly của Ba Mẹ tôi dạo ấy vẫn thường trưng bày những chiếc đĩa sứ Hải Dương chị mang về tặng. Trên đó chị vẽ những bông hoa, những chú cá chép, cá vàng rất đẹp, rất sinh động, và cả lời đề tặng của Chị. Lũ trẻ chúng tôi phục lăn!

Chị xây dựng gia đình, chồng chị là anh Nguyễn Thế Bưu người cùng quê, anh là sĩ quan cao cấp công tác tại Quân khu Ba. Anh Bưu là người có tài hùng biện, nói chuyện rất có duyên, và quan hệ với bà con bên vợ cực kỳ chu đáo. Nhưng không hiểu sao anh chị trục trặc một thời gian rồi hai người chia tay, để lại thằng Quân ngơ ngác giữa đời lúc ấy hẵng còn bé lắm.

Chiến tranh phá hoại bùng nổ, Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, chị tôi tái ngũ. Chị giữ chức Bí thư Đảng ủy của nhà máy sản xuất lương khô và đồ hộp thuộc ngành Hậu cần quân đội cho đến ngày về nghỉ chế độ.  Cho đến sau này lúc đã có tuổi, Chị tôi xây dựng gia đình với anh Võ Minh, đại tá quân đội, quê Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình. Hai người không có con chung vì đều đã lớn tuổi. Cách đây dăm năm anh Minh về với Tổ tiên lúc anh vừa lên thượng thọ tuổi 80, để chị ở lại một mình một bóng.

Chuyện về Chị không thể một lúc mà nói hết được, đó là câu chuyện của cả một đời người. Đời người con gái mồ côi mẹ lúc còn bé tí, coi Bà ngoại và Cậu mợ là gia đình, coi Mẹ tôi là Mẹ, coi quân đội là nhà bất luận trong hoàn cảnh nào. Mỗi lần chị di chuyển chỗ ở nơi này nơi kia, hay chuyển nhà khu này khu nọ, trong góc phòng của Bà Ngoại ngày xưa ở Hoàng Diệu vẫn còn đó một vali và túi xách của Chị, cứ như là hành trang của người sắp lên đường đi công cán. Khi thằng em bé nhỏ năm xưa nay đã có tuổi, bóng xế về chiều, nhớ lại hình ảnh đó, làm sao cầm được nước mắt, Chị ơi...

Nơi chị ở cuối cùng trước khi vào Viện dưỡng lão là một căn hộ tầng một của một khu nhà tập thể cao tầng trên đường Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, cầu Giấy, Hà Nội. Những dịp lễ Tết hoặc ngày Giỗ Dì Liên mùng 4 tháng 3 âm lịch hàng năm, anh chị em chúng tôi đều tụ hội về đấy, quây quần bên Chị. Chị ở đấy cho gần thằng Quân, con trai chị. Thằng Quân cùng vợ con ở một ngôi nhà khang trang đối diện bên kia đường, cũng tiện lui tới trông nom mẹ. 

Chị đi rồi. Muốn khóc quá mà sao không khóc được...

Phút ra đi Chị có thanh thản? Chị có muốn căn dặn lại điều gì? Chúng em không có mặt bên chị vào giờ phút lâm chung, đó là điều sẽ ân hận suốt quãng đời còn lại... Cách đây một thời gian khi chị đã vào Viện dưỡng lão ở hẳn, Chị đặt mua một "ô tủ đặt cốt" trong Chùa Phụng Thánh ở Ngõ Cống Trắng trên Phố Khâm Thiên. Trong một lần gặp Chị, chị lấy bút dạ viết lên tấm bảng tự xóa mấy dòng rồi đưa cho thằng em đọc: "Chị sẽ nằm ở ô 48 ngay tầng dưới cùng để dễ tiếp đất. Vào cửa rẽ trái là Ba Me, chị ở bên phải. Chị muốn ở đó cho gần Me"! Lúc đó đọc rồi nhìn Chị cười, bảo Chị khéo lo xa. Chị bảo xa gì, đó là lo gần, em ạ. Giờ thì chỉ muốn khóc.

Mỗi lần vào Chùa Phụng Thánh thăm Ba Mẹ ở Nhà Vong, chúng tôi đều sang lau bụi ô 48 ở gian bên phải Ban Thờ Phật, thầm nghĩ cũng nên thăm nom quét tước cho căn nhà của Chị sau này được sạch sẽ. Ai ngờ, ngày đó lại đến bất ngờ và nhanh như vậy...

Chị Hạ ơi,
Hãy an lòng Chị nhé!  Bên ấy Ba mẹ Chị, Ba Me bọn em, Bà Ngoại, chị Xuân, chị Hồng Anh cùng những người thân yêu đang chờ để đón chị, để ôm Chị vào lòng, để thỏa những ngày âm dương cách biệt. Tất cả rồi đã tụ hội sum vầy, hãy bình yên Chị nhá!
Chúng em cầu cho chị luôn thanh thản và bằng an bên Chốn Ấy!
Đừng quên những đứa em còn ở lại, Chị nhé!
Chúng em, những đứa em bé bỏng của Chị, mãi mãi nhớ thương, Chị ơi... 

Những ngày đau thương
Mùng 9 tháng Năm 2011
--------------

Chị Hạ mất vào chiều ngày Chủ Nhật 08-05-2011 tức mùng 6-4 ÂL. Lễ tang vào chiều ngày 10-05-2011 tại nhà tang lễ BV354 HN.
---------------

Tin cuối: Đến 9 giờ sáng ngày 11-05-2011, cháu Quân con trai chị Hạ đã đưa mẹ cháu là Trần Thị Hạ về an nghỉ bên cạnh bố cháu là Nguyễn Thế Bưu tại chân núi An Mã, quê hương Lệ Thủy, Quảng Bình.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

MỢ TÔI - 2

MỢ TÔI - NHỮNG NỖI ĐAU LẶN VÀO TRONG
Viết vào ngày Giỗ Mợ
Nỗi đau khôn nguôi cứ bám riết lấy phần đời còn lại của Mợ tôi có lẽ tính từ ngày ở nhà nhận được giấy báo tử của Quang, hy sinh tại mặt trận Quảng Trị. Quang là con trai áp chót, trên Huy và dưới anh Sơn. Quang sinh cùng năm với Tấn Lộc em trai tôi. Quang lúc mới sinh đã là một đứa trẻ yếu ớt, khó nuôi, vì vậy được Me thương lắm.

Mợ tôi càng thương Quang gấp bội khi Quang nhập ngũ, cũng bởi với đôi mắt cận thị nặng, lúc nào cũng đeo kính cận số to trông như hai cái đít chai, cả nhà không hiểu Quang ra trận rồi sẽ đánh đấm thế nào. Thời gian Quang tập trung huấn luyện đi B ở Thanh Hóa, Ba tôi đã hai lần đạp xe vào tận nơi thăm Quang. Có lẽ đó là lần cuối cùng Quang được gặp người thân cho đến khi hy sinh.

Sau này nhờ nhiều người tận tình giúp đỡ, gia đình đã tìm được hài cốt của Quang tại đúng căn hầm mà Quang hy sinh. Mộ của Quang được đặt trong Nghĩa trang Đường Chín. Năm nào gia đình cũng tổ chức một xe vào đó thăm Quang. 
Còn nhớ cái lần tôi đi NCS từ Kiev trở về, khi đến thăm Cậu Mợ rồi thắp hương trên bàn thờ Ông Bà để báo cáo kết quả học tập, tôi để ý thấy một cái bình bằng gốm sứ trông giống cái bát hương cỡ lớn, có nắp đậy kín gắn keo xi, bên cạnh có đặt một bát hương riêng. Hỏi thì Mợ nói đó là anh con đấy, anh mất sớm ở Chiến khu Bang-Rợn lúc mới mấy tháng tuổi. Tôi buột miệng nói "Phải anh Cooc không Me?". Với vẻ đầy ngạc nhiên Mợ tôi hỏi: "Sao con biết?". Tôi kể cho Mợ nghe là từ hồi còn bé, cứ mỗi lần kể tên các anh chị trong nhà thì Ba Mẹ tôi hay nhắc đến anh Cooc. Nói anh mất sớm, tội lắm, trên chiến khu thiếu thốn đủ điều, thuốc men cũng thiếu, và anh được chôn dưới gốc cây thị. Mợ nói, Cooc là địa danh vùng đó, cây thị bây giờ đã thành cổ thụ, cũng nhờ có cây thị mới tìm được nơi anh nằm, bao nhiêu năm rồi còn gì, Me cũng chỉ mang được nắm đất về thờ thôi. Sau này do nhiều người khuyên, Mợ tôi đưa anh lên chùa, cho nó lành, Mợ bảo thế.

Năm 1995 Cậu tôi ốm nặng rồi qua đời tại Bệnh viện Hữu nghị. Trước đó chị Hồng Anh đón chú Tài Thu về châm cứu cho Cậu, chú cho chạy điện châm mấy lần, lần nào cũng nói chuyện với Cậu tôi rất nhẹ nhàng, động viên rất khéo. Nhưng khi ra ngoài hành lang thì chú cho biết là đã quá muộn. Quả nhiên chỉ hai hôm sau là Cậu đi vào hôn mê, rồi hôn mê sâu cho đến lúc ra đi.

Khi đón Mợ vào Bệnh viện, chúng tôi để Me ngồi trên một chiếc ghế kê sát giường Ba nằm. Mợ cứ nhắc đi nhắc lại một câu "Sao thế này, sao lại đi sớm thế này...". Sau đó Mợ nói với chúng tôi: "Me muốn ngồi đây một mình với Ba". Tất cả lặng lẽ lui ra hành lang, chỉ còn tôi đứng lại sau lưng Me, và anh Minh thì đứng ở phía đầu giường Ba nằm. Anh cẩn thận hà hơi nóng vào lòng bàn tay rồi vuốt mấy lượt lên mắt Cậu tôi. Trước đó ít phút, mắt Cậu chỉ khép lại khi có bóng Mợ bước vào phòng. Me nói: "Hai đứa ra ngoài một lúc, khi nào Me gọi mới được vào". Nấn ná mấy giây rồi hai anh em cũng chịu rút ra ngoài đứng đợi. Tôi nhòm qua cửa kính, đầu tiên thấy Mợ ngồi im khá lâu, rồi sau đó cứ như đang tâm sự điều gì với Cậu vậy.
Từ khi đưa Cậu tôi lên Mai Dịch trở về, hàng ngày lúc nào cũng có người luôn bên cạnh Mợ. Dù thấy Mợ vẫn giữ được bình tĩnh, nhưng chúng tôi hiểu rằng để giữ được vẻ ngoài bình tĩnh như vậy, chắc Mợ không còn đủ sức để chặn nỗi đau bên trong đang cào xé cõi lòng.

(Còn nữa)

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

DÒNG TÊN BẠN

Ngồi buồn tạm phác vần thơ
Ghi dòng tên bạn những giờ thủy chung
Bao năm sống dưới mái trường
Xa nhau xin bạn nhớ đừng quên ai

Ánh, Quyên, Hòe, Cúc, Xuân, Mai
Kháng, Ngọc, Lê, Ẩm, còn ai nữa nào
Cương, Long, Hậu, Định bên nhau
Văn, Hưng, Dõng, Phú trước sau trọn tình
Chài, Lâm, Hùng, Chiến, Hưng, Minh
Quý Liên, Vu, Dũng, Khanh, Tuynh, Ngụy, Thùy
Văn Liên, Bằng, Truật, Khánh, Khuê
Sang, Thành, Giang, Thủ, Cẩm kề bên Công

Bốn hai tên bạn nối dòng
Trước sau xin bạn chớ đừng quên ai
Chúc cho Cúc mọc bên Mai
Nghìn năm tình bạn không phai tấc lòng
Dù cho trăm nẻo trăm phương
Tình ta mãi mãi thủy chung vẹn toàn.
Ngày mai thống nhất giang san
Gặp nhau không thể nào quên bạn hiền

Chiều nay phượng đỏ đầu đình
Ghi dòng tên bạn đinh ninh tấc lòng
Ngày mai về lại quê hương
Mang dòng tên bạn nhớ thương mặn nồng.

27-05-1966
Lê Quang Cẩm

Chúng tôi là học sinh lớp 10B (Khóa 2 cấp 3 Lệ Thủy, 1963-1966), Chủ nhiệm là Thầy Thuần, dạy Văn.
Bài thơ trên là của Lê Quang Cẩm, cùng lớp 10B chép tặng  các bạn cùng lớp nhân buổi gặp mặt chia tay vào một ngày hè đỏ lửa năm 1966. Buổi chia tay đẫm nước mắt tại một nhà dân mà Thầy Thuần, chủ nhiệm lớp 10B của chúng tôi, đang trọ ở cùng cháu của Thầy là Nguyễn Quý Liên, bạn học cùng lớp tôi.
Trước đó, không biết theo sáng kiến của ai, các bạn nữ đã thêu tên thầy chủ nhiệm cùng họ tên 42 học sinh của lớp lên một lá cờ bằng vải đỏ tươi, xung quanh có viền đăng-ten rất đẹp. Trong buổi giao lưu các bạn nữ mang ra cho cả lớp xem, sau đó lưu lại làm kỷ niệm. Không biết bây giờ qua bao năm tháng, lá cờ ấy có còn không, và đang nằm ở đâu.

Trong bài thơ "lịch sử" DÒNG TÊN BẠN có nêu tên 42 bạn, hiện nay tôi chỉ biết được tin tức một số bạn sau đây:
- Đang ở Hà Nội: Nguyễn Thị Tú Quyên, Nguyễn Minh Kháng,                                 Đỗ Khắc Hưng,  Võ Như Dõng, Nguyễn Văn Truật,
                            Nguyễn Tấn Định, Nguyễn Anh Dũng, là 7 bạn có tên trong 
                             bài thơ nói trên.
                            Ngoài ra còn có Dương Viết Mỹ, Đỗ Văn Đồng,
- Ở Gia Lai: Trần Duy Hưng
- Ở Đà Nẵng: Võ Sang
- Ở Đồng Hới: Hoàng Thị Cẩm (Ẩm), Võ Kim Lê, Đặng Ngọc Long, Chiến,
                         Phan khắc Hậu
- Ở quê Lệ Thủy khá nhiều: Trần Đình Giang, Lê QuangCẩm, Vu, Chài,
                        Thùy, Hùng, Hoàng Đại Thành
- Ở Thành phố HCM: Hòe
- Ở Hà Tĩnh: Nguyễn Thanh Văn
.....
- Các bạn đã mất: Lâm Quang Ánh, Nguyễn Thị Bạch Cúc
Rất mong các bạn là học sinh lớp 10B thuở ấy và những ai biết được tin tức về những cựu học sinh Khóa 2 Cấp 3 Lệ Thủy, có tên trong bài thơ DÒNG TÊN BẠN, hãy lên tiếng và bổ sung.
Xin trân trọng cám ơn!
NTĐ

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

MỢ TÔI

MỢ TÔI

Kính dâng Hương Hồn Mợ yêu quý
 
Trong tháng Ba âm lịch hàng năm có bốn cái Giỗ quan trọng tôi cần phải nhớ. Từ ngày Ba tôi đi xa về với Tổ tiên tôi phải học thuộc các ngày giỗ trong năm và tập cách tra Gia phả. Sáu chục tuổi đầu mới tập tành làm những công việc như vậy không phải là quá sớm! 
 
Trước tiên là Mùng Mười Giỗ Tổ, có lẽ con dân nước Việt ai cũng phải nhớ, chẳng riêng gì tôi. Trước Giỗ Tổ một ngày là ngày Giỗ Bà Nội. Lùi lại một tuần, mùng bốn là ngày Giỗ Dì Liên, chị của Mẹ tôi. Dì mất sớm để lại hai đứa con gái, đó là chị Xuân và chị Hạ. Từ bé cho đến lúc về già, hai chị lúc nào cũng gọi Mẹ tôi là Mẹ, và cư xử như là với mẹ đẻ vậy. Sau Giỗ Tổ hai ngày là Giỗ Mợ Miến, vợ Cậu Nho của tôi. Cậu Nho hơn Mẹ tôi ba tuổi. Sau Mẹ tôi, Mợ là người có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình hình thành nhân cách của tôi.
 
Mợ bước vào đời tôi tự nhiên như một người mẹ. Cũng bởi từ những ngày đầu tiên được sống với gia đình Cậu Mợ, tôi đã gọi Mợ là Me như các anh chị trong nhà. Gọi Me và xưng con một cách tự nhiên như trời sinh ra thế, có lẽ một phần là nhờ lúc ở nhà trong quê, tôi cũng gọi mẹ tôi là Me rồi. Trong tất cả các trang nhật ký tôi ghi chép về Mợ, chỉ thấy gọi Me xưng con như ngoài đời vẫn vậy. Nhưng ở đây, trong bài viết này tôi sẽ viết là Mợ, để bạn đọc dễ theo dõi.
 
Mợ tôi có cách dạy con khác Mẹ tôi, dạy mà như không dạy, chiều chuộng hết mực nhưng rất nghiêm khắc. Không mắng mỏ nặng lời nhưng chỉ cần nhìn vào ánh mắt của Mợ là biết mình cần phải làm gì. Có lẽ Mợ tôi nắm chắc được một điều, đó là các con đều thông minh nhạy cảm và hiếu đễ, chúng biết phải làm gì để sửa chữa những sai lầm khuyết điểm, không làm cho bố mẹ phải phiền lòng.
 
Còn nhớ, tôi và Thạch Sơn anh tôi cùng tuổi, hai đứa được xếp một phòng xinh xắn ở gác hai. Mợ tôi có lịch phân công công việc cho hai đứa hẳn hoi, đứa nào lau nhà, đứa nào quét ban công, lúc nào tập thể dục, lúc nào tưới cây, thay nước bể cá, nhất nhất đều làm theo lịch. Hàng tuần đều có nhận xét, cho điểm. Đến cuối tháng tổng kết đứa nào nhiều điểm hơn thì sẽ được thưởng. Thường là Mợ cho tiền đi ăn quà, hai đứa đều được cho tiền, nhưng đứa nào nhiều điểm hơn thì được cho thêm. Những tháng đầu tôi và Sơn còn ganh đua nhau, nhưng về sau thấy đứa nào thắng rồi cũng thế, cùng chung tiền lúc đi ăn quà cả, nên đâm sao nhãng, và Mợ đã rất buồn. Biết vậy nên tôi và Sơn chăm chỉ hơn trước, thỉnh thoảng cũng có vài vụ hai đứa cộng tác để đối phó với các cuộc 'thanh tra' đột xuất của Me.
 
Nhớ nhất vẫn là cái vụ tôi tè dầm lúc ngủ, chuyện này có lẽ đến bây giờ vẫn là một bí mật lớn nhất trong đời, chưa ai biết ngoài Mợ tôi. Sáng đó tôi dậy thật sớm, vì là quần ướt mà vào mùa đông nên không tài nào ngủ được, tôi dậy và đứng thu lu ở cửa phòng tắm. Mợ nhìn thấy biết rõ sự tình liền lấy quần bắt tôi thay ngay, rồi nhanh chóng thay ga giường ngủ cho tôi. Mợ còn lấy một cái khăn tắm lót che phần ướt dưới đệm rồi giấu nhẹm tang vật. Được một phen hú vía! Nếu lộ chuyện, biết chắc là anh Sơn sẽ gán cho tôi một biệt danh nào đó, và sau đó chắc chắn sẽ đến tai bọn ở lớp. Lúc đó thì có mà chui xuống lỗ!
 
Lần nữa là lần tôi bị ném sưng đầu làm Mợ hết sức lo lắng. Số là tôi chơi xèng rồi thua thằng Thắng ở số nhà 44 đối diện bên kia đường, sau này lớn lên mới biết bố Thắng là ông Đỗ Tất Lợi rất nổi tiếng. Lần đó tôi thua sạch, xin lại mấy xèng nó không cho, tức quá tôi chộp túi xèng chạy bay ra đường. Chưa kịp chui vào nhà thì đã bị một "củ đậu bay" tương ngay vào sau đầu đau điếng. Quay nhìn lại đã thấy thằng Thắng đứng bên kia đường cười lêu lêu nhăn nhở. Nó thấy tôi xòe bàn tay đỏ lòm những máu thì hốt hoảng trốn biệt vào nhà. Anh Sơn nhanh trí chạy xuống bếp vốc một vốc muối đắp ngay vào chỗ sưng. Không ngờ chỗ sưng tăng trưởng nhanh đến vậy, có lẽ còn nhanh hơn là tăng giá bây giờ! Chỗ sưng lại còn nhức giật giật nhói lên cả đỉnh đầu, có nguy cơ phải nghỉ học, vậy nên quyết định phải khai thật với Mợ. Và Mợ tôi đã trổ tài lang vườn, mợ xin một nắm lá gì đó ở ban công nhà bác Lợi, nhai nhuyễn rồi đắp vào chỗ đau cho tôi. Thỉnh thoảng Mợ lại bắt tôi cúi thấp đầu xuống rồi thổi phù phù vào chỗ đau, hơi thở man mát âm ấm, dễ chịu vô cùng.
 
Trong bữa cơm, Cậu tôi hỏi "Định, đầu con sao vậy?". Mợ tôi nhìn Cậu đỡ lời: "Nó bị cái nhọt đầu đinh sưng tấy". Sơn nghe Me nói thế tròn mắt ngạc nhiên, bưng bát cơm vừa chan đầy nước vối chạy vội ra hành lang, cười khùng khục. Tôi và vội miếng cơm rồi cũng chạy theo ra, tức như bò đá!
Cái u lúc đầu sưng to bằng quả trứng gà, nhưng chỉ một tuần là khỏi. Có lẽ nhờ vào mấy cái lá cây nhà bác Lợi thì ít, mà phần lớn là nhờ vào độ ấm của hơi thở Mợ tôi thổi cho! Chắc chắn là như vậy rồi!
 
Mợ còn bày cho tôi và Sơn cách muối trứng vịt, muối khô và muối nước. Chỉ đường cho hai đứa ra Đầm Trấu phía ngoài đê xin tro bếp và đất phù sa. Mợ đâu biết rằng đường ra Đầm Trấu thì Sơn, Thắng và tôi đã thuộc như lòng bàn tay vì bọn tôi hay trốn nhà ra đó tắm trộm. Có lần vì ham tập bơi ở chỗ bè nứa, Sơn suýt chết đuối còn thằng Thắng từ đó rủ mãi không dám đi nữa. Mợ còn giao cho Sơn và tôi đến nhà người quen ở Phạm Đình Hồ bứng rồi khênh về cả một cây vú sữa cực đẹp, trồng ngay vào khoảnh sân nhỏ nằm giữa phòng ăn nhà trên và gian bếp phía dưới. Lúc ấy còn nhỏ tuổi nên hai đứa thấy công trình trồng cây này là quá vĩ đại, đặc biệt hồi đó cây vú sữa lại đang là biểu tượng của miền Nam ruột thịt.
 
Có một lần sau bữa trưa, sau khi ngó vào thấy hai ông con đã nằm im trên giường, Mợ khép cửa đi nghỉ. Chỉ loáng sau hai đứa đã có mặt ở ban công với mỗi đứa một súng cao su trong tay. Trời mưa nên không trèo tường đi chơi được. Chim vành khuyên và chim sâu cũng trốn đâu biệt tăm. Ngó tới ngó lui chỉ còn cây đu đủ đầy quả xanh của số nhà 53A, và khi thấy những viên đạn hình chữ U uốn bằng dây thép cắm phập vào quả đu đủ hai anh em khoái chí vô cùng. Bị kích thích bởi những đám mủ đu đủ trắng xóa đặc quánh lại bám chặt vào chùm quả, chúng tôi bẻ phấn trắng làm đạn và tiếp tục cuộc thi bắn đạn thật. Kết quả là hộp phấn viên hết veo. Cuộc chơi đành kết thúc khi giờ học bài buổi chiều đã điểm.
 
Cuộc bắn đạn thật ấy đã để lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Bà chủ nhà người Hoa bên số 53A đã mời Mợ tôi sang nói chuyện. Không biết người lớn nói gì với nhau nhưng khi về thấy Me rất buồn, hai đứa im thin thít chẳng dám hỏi. Bữa tối trôi qua nặng nề sau đó mọi người ai về phòng nấy, chỉ còn anh Minh là anh cả trong nhà bảo hai đứa ngồi lại. Hai anh em nhìn nhau trong bụng cực run, vì đã biết tính anh, ít nói nhưng rất nghiêm. Sau khi tra hỏi mấy câu hai đứa đành khai thật hết và giao nộp vũ khí, té ra là năm cái chứ không phải bốn. Này nhé, hai súng cao su mi-ni dùng bắn đạn thép chữ U, hai súng cao su bắn đạn sỏi viên nhỏ, Sơn còn thửa thêm một súng bắn hạt trám nữa, vũ khí này đang giai đoạn hoàn thiện! Cứ tưởng anh Minh tịch thu rồi hủy, hóa ra không, anh lấy chun buộc thành một túm rồi quẳng lên nóc tủ ly ngay trong phòng ăn. Vậy mà chúng cứ nằm ở đó mãi chẳng đứa nào dám ho he!
 
Một ngày nọ, Mợ tôi mang về mấy quyển sách mới toanh còn thơm mùi mực in, đó là sách cho thiếu nhi, cuốn "Cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karic và Valia". Khi cả nhà đang tíu tít với "sách của Me sách của Me" thì Mợ tôi giơ cao quyển sách, chỉ vào dòng chữ nhỏ phần ghi người dịch, nói: "Hai người dịch đấy nha, không phải mình Me đâu nha!". Lúc đó cả nhà mới để ý và reo lên vui sướng: dòng ấy ghi "Phan Thị Miến và Thiệu Huy - Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp". Cả nhà vui sướng ríu rít là vì đồng dịch giả Thiệu Huy ngày đó mới có ba tuổi, và rất hay khóc nhè làm nũng. Huy là út trong nhà, sát ngay sau Quang. Hồi đó tôi không để ý lắm đến việc Huy còn bé mà đã được in tên lên sách, ấn tượng với tôi nhất chính là mấy chữ "Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp". Tôi tự hào về Mợ tôi! Và ngày ấy cứ tưởng chỉ duy nhất có Mợ tôi là biết tiếng Pháp! Quyển sách Mợ dịch từ tiếng Pháp, quyển "Cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karic và Valia" là quyển sách mà tôi thích nhất, nó ám ảnh suốt quãng đời còn lại của tôi, ngay cả khi đã thuộc biên chế của Hội người cao tuổi!
 
Điều lạ lùng là cách đây không lâu tôi lạc vào một trang web giới thiệu sách cho lứa tuổi thiếu nhi, thấy trong danh mục có quyển "Cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karic và Valia", không hề có ghi tên người dịch, mặc dù các sách khác đều có ghi. Trong danh mục của một trang web khác lại còn xuất hiện một quyển nhái, đó là quyển "Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karic và Valia". Trong tên sách họ cố tình thêm chữ "Những", nhưng lại giả vờ quên ghi tên người dịch. Tôi hỏi nhà thơ và là dịch giả Thúy Toàn, ông nói "Có thể khiếu nại được". Tôi hỏi nhà văn Nguyễn Quang Lập, anh nói "Khiếu nại bản quyền ở nước mình là chuyện đơm đó ngọn tre, hehe". Thế mà còn cười được thì đau thật!
 
Dịch sách là niềm say mê của Mợ. Ngay từ những ngày còn bé tôi đã thấy đêm nào Mợ tôi cũng say sưa với những trang sách nước ngoài đã được tháo rời ra từng xếp nhỏ một, gọi là "tay sách". Mãi sau này tôi mới hiểu là Mợ tháo rời ra như thế để dễ cho vào túi xách mang đi mang lại giữa cơ quan và về nhà. Đêm về nằm đọc cầm tay sách cũng nhẹ nhàng và thuận tiện cho việc vừa dịch vừa phải ghi chép. Về sau, khi đã rời Viện Nghiên cứu Giáo dục về nghỉ hưu, Mợ tôi vẫn cộng tác với các đồng nghiệp như bác Phùng Văn Tửu, Đỗ Đức Hiểu và Hoàng Thiếu Sơn tiếp tục công việc dịch thuật và giới thiệu sách văn học nước ngoài. Một số tên sách Mợ tôi đã dịch và tham gia dịch mà tôi còn nhớ như Iliat và Ôđixê của Hômerơ, Kịch tuyển chọn của Victo Huygô, Sách dành cho các bậc cha mẹ của Macarenko, và một vài quyển khác nữa.
 
Tôi không bao giờ quên cái ngày in xong quyển Iliat và Ôđixê của Hômerơ. Đó là một quyển sách được biên tập kỹ càng và dày dặn, bởi nó được tập hợp từ hai quyển Mợ tôi dịch, mà trước đây in thành hai quyển riêng biệt. Còn nhớ đó là vào năm 1997, khi Cậu Nho đã đi xa, Mợ tôi trải qua những ngày cô đơn và trống trải, mặc dù các con luôn bên cạnh. Thời kỳ đó tôi ghé về với Mợ thường xuyên hơn. Lần ấy Mợ không đợi tôi ghé về, Mợ bảo chị Dung, chị dâu tôi gọi nhắn tôi vào 53B Hàng Chuối. Tôi cứ tưởng có việc gì sai bảo, hóa ra là để Mợ cho tôi quyển sách mới in với lời đề tặng chan chứa yêu thương. Cách đây mấy năm cô giáo Quỳnh Nga ra Hà Nội, trong một lần đến thăm cô ở Bà Triệu, biết là cô thân thiết với Mợ nên tôi mang theo quyển sách để khoe. Tôi nói: "Để cô biết rằng em có thêm một người mẹ nữa". Cô ngỏ ý muốn giữ quyển sách một thời gian, và tôi đã đồng ý.
 
Hết phần Một.